User login

Bản tin Thị trường Tiền tệ Ngân hàng SCB ngày 31/12/09


Bản tin Thị trường Tiền tệ Ngân hàng SCB ngày 31/12/09

Bookmark and Share
Facebook
Chứng kiến giá vàng liên tiếp chinh phục những đỉnh cao trong lịch sử cùng những cơn bão giá tăng nhanh – giảm mạnh đầy bất ngờ, thật khó phủ nhận năm 2009 vừa qua là năm “vàng” của mặt hàng kim loại quý này.

 [USD] Nước Mỹ và đồng USD vất vả trên con đường níu giữ vị thế độc tôn

 Năm 2009 với những sự kiện tài chính khẳng định nền kinh tế toàn cầu vẫn chưa qua được cơn bĩ cực, sự trì trệ của nền kinh tế Mỹ đang và sẽ ảnh hưởng đến bức tranh kinh tế thế giới. Khủng hoảng tài chính không chỉ khiến cho nền kinh tế toàn cầu đi chệch theo quỹ đạo, mà sức tàn phá của nó nặng nề tới mức hiếm thấy trong lịch sử. Mặc dù kể từ quý II/2009, sự phục hồi của nền kinh tế bắt đầu mạnh dần nhưng đến năm 2010, dự đoán kinh tế thế giới vẫn chỉ là “mò mẫm đi trong sương mù”, với các vấn đề nghiêm trọng như tỷ lệ thất nghiệp cao, con số thâm hụt ngân sách không ngừng tăng lên, áp lực về lạm phát ngày càng nghiêm trọng, chủ nghĩa bảo hộ lên ngôi, đói nghèo gia tăng,..

 Khởi đầu một năm đầy khó khăn của kinh tế thế giới, trong bối cảnh các kênh đầu tư khác đều mất đi tính hấp dẫn, đặc biệt là Vàngchứng khoán, đồng USD trở thành “chiếc hầm trú ẩn an toàn” cho hầu hết giới kinh doanh. Tháng 1, chỉ số DXY đo lường giá trị đồng bạc xanh so với rổ tiền tệ bao gồm 6 loại đồng tiền mạnh leo lên mức khá cao trên 85 điểm. Tháng 2 và nửa đầu tháng 3 tiếp tục với ưu thế thuộc về bạc xanh khi tình hình tồi tệ của kinh tế Mỹ vẫn tiếp diễn với việc AIG công bố thua lỗ lớn nhất trong lịch sử, General Motors xin bảo hộ phá sản. Dow Jones xuống dưới 7.000 điểm lần đầu trong 12 năm còn S&P 500 đóng cửa ở mức thấp nhất từ năm 1996. Trước tình hình “rơi tự do” này của kinh tế đầu tàu, cùng với khoản mua lại các cổ phiếu cầm cố trị giá 1.450 tỷ USD đang thực hiện; FED tiếp tục tung tiền mua vào 300 tỷ USD trái phiếu chính phủ bất chấp một lượng tiền khổng lồ đã được đẩy ra thị trường từ cuối năm 2008. Cũng trong khoảng thời gian trên, đồng USD tăng giá 9% so với EUR và 7% so với JPY.

 Cho đến cuối tháng 3/2009, tình hình kinh tế Mỹ bắt đầu có dấu hiệu cải thiện. Thêm vào đó, gói hỗ trợ trị giá đến 787 tỷ USD được chính phủ Mỹ bơm vào nền kinh tế phần nào cổ vũ trào lưu ưa thích rủi ro, xóa nhòa tính chất an toàn của đồng bạc xanh trên thị trường và đánh dấu thời kỳ giảm điểm kéo dài của đồng tiền này cho đến gần hết năm 2009. Tâm lý thị trường dần ổn định hơn, Phố Wall bắt đầu gượng dậy và phục hồi trở lại. Đến hết quý 3/2009, kinh tế Mỹ được xem là thoát khỏi suy thoái với tốc độ tăng trưởng GDP so với quý 2 là 2.2%. Tuy nhiên, với chính sách nới lỏng tiền tệ nhằm kích thích kinh tế và bù đắp thâm hụt cán cân thương mại, FED kiên quyết giữ nguyên mức lãi suất cơ bản đồng USD ở mức 0 – 0.25% bất chấp những chuyển biến tích cực của nền kinh tế và mức thâm hụt ngân sách kỷ lục đã kề cận mức 1.500 tỷ USD. Thêm vào đó, những thông tin về việc các nước Trung Đông có ý định loại đồng USD ra khỏi các giao dịch dầu lửa, NHTW các nước bắt đầu thay đổi cơ cấu dự trữ ngoại hối quốc gia nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào đồng USD, sự vươn lên của Trung Quốc trên đấu trường thế giới… cũng góp phần đẩy đồng USD suy giảm mạnh hơn. Chỉ số DXY rớt xuống sát mức 75 điểm trong những tuần cuối của tháng 10/2009.

 Tình hình chỉ thay đổi cho đến cuối tháng 11, vụ “nhà giàu khất nợ” của Dubai gây "sốc" cho ngành tài chính toàn cầu. Rủi ro về một cuộc khủng hoảng nợ ở thế giới Arab đã thúc đẩy giới đầu tư quay trở lại với trái phiếu kho bạc Mỹ và đồng USD để tìm kiếm sự an toàn, từ đó tạo lực đẩy đồng bạc xanh hồi phục sau 8 tháng suy yếu. Dầu vậy, bên cạnh bối cảnh lãi suất thấp, những yếu tố tác động tiêu cực đối với USD vẫn còn đó. Nhiều NHTW vẫn muốn bán USD do họ đã tích lũy quá nhiều, dòng vốn tư nhân ra khỏi Mỹ vẫn khá cao và chưa thể thay đổi trong khi Trung Quốc thể hiện rõ ràng việc đa dạng dự trữ ngoại tệ sang những tiền tệ khác và tài sản chất lượng cao hơn, mặc dù USD vẫn là đồng tiền chủ chốt. Trong khi đó, mặc dù tỉ lệ thất nghiệp trong tháng 11 của đầu tàu đã giảm xuống còn 10% - mức thấp nhất trong hơn 2 năm qua, nhưng tỷ lệ này vẫn còn khá cao và nhiều khả năng tỷ lệ này sẽ còn đứng ở mức 9% chí ít là đến hết năm 2010. Trước tình hình này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Timothy Geithner quyết định chi thêm 700 tỉ USD từ quĩ hỗ trợ tài chính cho đến tháng 10/2010. Trong đó, gần 550 tỉ dành cho Chương trình giải trừ tài sản xấu (TARP), phần còn lại để giảm thâm hụt ngân sách. Dường như cả FED lẫn Bộ Tài chính đang làm hết sức mình để sớm đưa đầu tàu ra khỏi cơn khủng hoảng kéo dài từ đầu năm 2008 này.

 Dầu vẫn còn khá nhiều vấn đề cần phải giải quyết nhưng kinh tế Mỹ tháng cuối năm đã đón nhận nhiều hơn những dấu hiệu khả quan. Doanh số bán lẻ tăng cùng niềm tin thị trường được khôi phục, cùng lúc đó, hai ngân hàng lớn của Mỹ là Citigroup và Wells Fargo cũng tuyên bố họ sẽ trả lại chính phủ số tiền cứu trợ đã nhận được từ năm ngoái nhằm thoát khỏi các điều kiện quản lý ngặt nghèo từ nhà chức trách, đồng thời khẳng định hệ thống tài chính Mỹ đang ngày một phục hồi mạnh mẽ hơn. Trong khi đó, nỗi lo lạm phát của đầu tàu kinh tế Mỹ ngày một tăng lên khi Fed duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ quá lâu trong khi chính phủ vẫn chưa có kế hoạch rút số tiền hỗ trợ thanh khoản ra khỏi thị trường. Các chuyên gia dự đoán, với tình hình kinh tế bắt đầu khởi sắc đi kèm với mối lo lạm phát, các nhà cầm quyền Mỹ sẽ có quyết định điều chỉnh lãi suất đồng USD sớm hơn dự định. Dự đoán này đã trở thành lực hỗ trợ giúp đồng bạc xanh cải thiện vị thế của mình trên thị trường ngoại hối trong tháng cuối năm và sẽ là một ưu thế để đồng tiền này tiếp tục gia tăng khoảng cách so với các đối thủ của nó trên đường đua ngoại hối 2010.

 Thị trường USD/VND 2009: những cơn sóng chưa bao giờ dứt.

 Giống như hầu hết các đồng tiền quốc gia khác, năm 2009 cũng là một năm đầy khó khăn của thị trường ngoại hối Việt Nam mà cụ thể là thị trường USD/VND.

 Khởi động năm 2009 là những ngày khá căng thẳng của tỷ giá USD/VND. Tình hình xuất khẩu gặp khó khăn, FDIkiều hối chững lại trong bối cảnh kinh tế thế giới trượt dốc khiến cung ngoại tệ sụt giảm trong khi cầu ngoại tệ, chủ yếu là cầu USD cho nhập khẩu vẫn khá cao. Trong khi đó, việc các nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng chuyển vốn về nước càng gây áp lực lên tỷ giá USD/VND trong những ngày đầu năm. Trong suốt gần 3 tháng của quý 1/2009, tỷ giá USD/VND do NHNN công bố xoay quanh mức 16,975 với biên độ tỷ giá là +/-3% trong khi giá USD/VND tại thị trường tự do có thời điểm lên đến 18,000. Đây cũng là thời điểm các ngân hàng bắt đầu thực hiện giải ngân theo chương trình hỗ trợ lãi suất của chính phủ với mục đích tránh cho kinh tế Việt Nam khỏi chìm sâu vào cơn bạo bệnh như tại các quốc gia phát triển. Do tác động phụ của chính sách hỗ trợ lãi suất cho vay bằng VND và việc điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản bằng VND, nhiều doanh nghiệp không muốn vay ngoại tệ mà chuyển sang vay VND để mua ngoại tệ tránh rủi ro tỷ giá, dẫn đến Nhu cầu mua ngoại tệ tăng mạnh, tình hình cung cầu ngoại tệ càng trở nên căng thẳng hơn. 

 Để tăng nguồn cung và ổn định thị trường ngoại tệ, ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều giải pháp, trong đó có việc mở rộng biên độ ấn định tỷ giá mua bán USD/VND của các NHTM từ ±3% lên ±5% so với tỷ giá bình quân liên ngân hàng với hiệu lực từ ngày 24/3/2009. Đặc biệt, nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp và người dân; NHNN đã yêu cầu các NHTM nhà nước giảm lãi suất cho vay và huy động bằng ngoại tệ (lãi suất cho vay giảm từ mức 6 – 6,5%/năm xuống không quá 4%/năm kể từ ngày 15/4/2009 và giảm tiếp xuống mức không quá 3%/năm kể từ ngày 01/6/2009, lãi suất huy động giảm xuống mức không quá 1,5%/năm kể từ ngày 01/6/2009). Tuy nhiên, hiệu quả của những giải pháp này còn khá hạn chế và chưa thể thay đổi được tâm lý găm giữ đồng USD của người dân. Do vậy trong suốt hơn 8 tháng của năm 2009, trên thị trường vẫn tồn tại nguồn huy động USD của các ngân hàng rất nhiều nhưng lại thiếu nguồn USD để bán lại cho các doanh nghiệp theo đúng giá quy định của NHNN. Để đảm bảo hoạt động kinh doanh nhiều công ty vẫn phải chấp nhận mua đồng USD với mức giá cao hơn so với mức giá của NHNN quy định. Tình hình càng trở nên căng thẳng hơn khi bước vào quý 4, Bộ Công Thương thông báo thâm hụt cán cân thanh toán tổng thể trong năm 2009 của Việt Nam ước khoảng 1,9 tỷ USD, trong đó thâm hụt cán cân thương mại khoảng 12 tỷ; NHNN công bố dự trữ ngoại hối tại thời điểm cuối tháng 10/2009 là 16 tỷ USD - thấp hơn mức dự trữ đầu năm 2008 là 20 tỷ USD; hơn nữa, báo cáo kiều hối dự kiến thu trong năm chỉ đạt 6,8 tỷ USD - giảm 6% so với năm 2008 còn nguồn vốn giải ngân FDI đạt khoảng 9 tỷ USD.

 Trong lúc cán cân thương mại đang bị sức ép thâm hụt, NHNN quyết định cho phép một số NHTM nhập Vàng trở lại vào tháng 11/2009 nhằm ngăn chặn cơn sốt diễn ra trên thị trường Vàng cũng một phần gây sức ép đối với tỷ giá USD/VND. Con số âm về chênh lệch xuất nhập khẩu được công bố trong 11 tháng đầu năm 2009 áp sát 10,2 tỷ USD, cộng thêm sức ép nhập khẩu vàng càng tạo tâm lý khan hiếm USD và đẩy rộng khoảng cách giữa giá USD do NHNN công bố giá USD trên thị trường tự do. Ngày 25/11/2009, NHNN buộc hạ biên độ dao động tỷ giá USD/VND từ ±5% xuống ±3% và nâng mạnh tỷ giá USD/VND lên mức 17,964 từ mức 17,034. Ngày 23/12/2009, Thủ tướng Chính phủ có văn bản yêu cầu 7 tập đoàn, tổng công ty nhà nước bán ngay số ngoại tệ dưới dạng tiền gửi và các nguồn thu vãng lai cho các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối, đồng thời NHNN bán ra ngoại tệ cho các TCTD có trạng thái ngoại tệ âm từ 5% trở xuống giúp tình hình ngoại tệ bớt đi nhiều phần căng thẳng. Những ngày cuối tháng 12/2009, tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng liên tục duy trì ở mức 17.941 VND. Giá USD mua vào - bán ra của các NHTM theo đó cũng duy trì ở mức trần là 18.479 VND. Cũng trong thời gian này, thị trường đón nhận thêm nỗ lực tháo gỡ khó khăn của Ngân hàng Nhà nước khi cơ quan chính phủ này có thông tư bổ sung thêm 2 đối tượng được vay vốn bằng ngoại tệ của các TCTD. Nhờ vậy, tình hình tỷ giá USD/VND cũng như cung cầu USD đã giảm bớt đi nhiều phần áp lực. Mặc dầu vậy, diễn biến phức tạp của cuộc suy thoái kinh tế thế giới vẫn chưa đến hồi kết thúc trong khi tình hình kinh tế trong nước chưa thực sự có nhiều dấu hiệu khởi sắc; do đó, việc các dòng vốn tiếp tục rời khỏi Việt Nam cũng như thâm hụt cán cân thanh toán và nợ ngắn hạn nước ngoài tăng lên sẽ vẫn là nỗi lo của thị trường ngoại hối Việt Nam trong thời gian tới. 

 [VÀNG] 2009 – Năm “vàng” của giá vàng

 Chứng kiến giá vàng liên tiếp chinh phục những đỉnh cao trong lịch sử cùng những cơn bão giá tăng nhanh – giảm mạnh đầy bất ngờ, thật khó phủ nhận năm 2009 vừa qua là năm “vàng” của mặt hàng kim loại quý này.

 “Hải trình Vàng” khởi động năm 2009 ở mốc $879.30/Oz, mang đặc điểm của một tài sản đầu tư rủi ro, song cũng đầy hấp dẫn, đã thu hút một “thủy thủ đoàn” đông đảo tham gia, từ những nhà đầu tư nhỏ lẻ cho đến các quỹ đầu cơ quy mô lớn. Trong suốt cuộc hành trình, với xu hướng tăng chủ đạo, chiếc tàu “Vàng” đã chuyển động tăng đều đặn trong các quý 1, 2 và 3 rồi bứt phá mạnh trong quý 4, để lại nhiều dấu ấn nổi bật cho 1 năm “phiêu lưu” của giá vàng.

 Nổi bật nhất có thể kể đến là đỉnh giá kỷ lục – mốc 1,226.30USD/Oz - được xác lập vào ngày 2/12/2009 trên thị trường New York. Mức giá này đã bỏ xa kỷ lục đóng cửa 1.002,8 USD/oz được lập vào năm 2008. Năm nay giá vàng đã tăng 25% và là năm tăng giá thứ 9 liên tục của vàng. Điều đáng nói là giá vàng thế giới năm nay lập kỷ lục giữa lúc khủng hoảng tài chính không còn căng thẳng như năm 2008, đồng thời rủi ro lạm phát cũng không phải là một mối lo quá lớn và thường trực của hầu hết các quốc gia.

 Giải mã cơn bão giá vàng này, giới chuyên gia nhận định là do sự mất giá của đồng Đôla Mỹ, đơn vị tiền tệ thuộc loại mạnh nhất trên thế giới, là do những lo ngại về sự trượt giá tiền giấy gây nên bởi lạm phát và quan trọng hơn cả là do sự đầu cơ, găm giữ vàng của các tổ chức đầu tư, bao gồm các quỹ đầu tư vàng trên sàn giao dịch, các quỹ đầu cơnhà đầu tư cá nhân. Ngoài ra, xu hướng tăng dự trữ vàng của nhiều NHTW cũng đã chắp cánh cho giá vàng thăng hoa.

 Giá vàng năm nay đã nhận được sự hỗ trợ tích cực từ các chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng của nước Mỹ. xu hướng suy yếu của tỷ giá USD do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) duy trì lãi suất cơ bản ở mức thấp kỷ lục là nhân tố nâng đỡ tích cực nhất cho giá vàng trong năm.

 Giảm dự trữ USD và tăng dự trữ vàng là cách đa dạng hóa dự trữ ngoại hối mà NHTW nhiều quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế mới nổi lớn như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Brazil..., đang thực hiện. Kỳ vọng giá vàng tăng của giới đầu tư đang và sẽ tiếp tục được củng cố qua việc các NHTW liên tục đăng ký gia tăng mua vàng từ IMF và thậm chí là mua vàng từ các mỏ vàng sản xuất trong nước của mình như trường hợp của Nga, tạo ra lý do cho các quỹ đầu cơ tiếp tục đẩy giá vàng lên.

 Điểm đáng chú ý thứ hai có thể kể đến là sự thay đổi trong cấu trúc của thị trường vàng thời kỳ “hậu khủng hoảng”. Vàng trở thành một kênh đầu tư sinh lợi cao thay vì vai trò truyền thống là công cụ phòng ngừa những biến động xấu của thị trường tài chính – kinh tế - chính trị, hay là để bảo toàn giá trị tài sản trước tác động của lạm phát. Theo số liệu hãng tin tài chính Bloomberg cung cấp, trong 11 tháng đầu năm nay, vàng đã đem đến cho giới đầu tư tỷ lệ lợi nhuận đến 34%, xếp thứ 3 sau các loại trái phiếu có định mức tín nhiệm thấp trên thế giới với mức 58%, tiếp đó là thị trường hàng hóa với mức lợi nhuận 36%, vượt qua các loại chứng khoán (29%), trái phiếu doanh nghiệp (23%), và trái phiếu chính phủ (8%). Cấu trúc thị trường thay đổi còn phản ánh khá rõ nét qua sự “tái sắp xếp” thứ tự ưu tiên của các yếu tố chi phối nhu cầu vàng. Nếu trước kia những Nhu cầu cơ bản về vàng vật chất cho tích trữ khi sản lượng bị thu hẹp, vàng nữ trang phục vụ cho mùa cưới ở Ấn Độ, vàng cho dịp năm mới ở Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn trong sức mua vàng thì nay, những Nhu cầu ấy đã bị đặt sau nhu cầu đầu cơ và kỳ vọng vàng tăng giá của giới đầu cơ.

 Ngoài ra, có thể nhận thấy song song với sự trở mình sang một dạng tài sản đầu tư có rủi ro hấp dẫn, vàng cũng mất dần vị thế “vịnh tránh bão” an toàn của mình. Trận “bão giá” vào quý 4 năm 2009 với sự “góp gió” đáng kể từ Trung Đông là dẫn chứng xác đáng cho sự mất ngôi này. thị trường tài chính toàn cầu vào khoảng cuối tháng 11 được phen chao đảo do lo sợ về một cuộc khủng hoảng nợ ở thế giới Arab khi đón nhận tin thông tin Dubai World, một doanh nghiệp Nhà nước hàng đầu xin khất nợ, với số nợ lên tới 59 tỷ USD, hơn 2/3 trong tổng số nợ 80 tỷ USD của Chính phủ nước này. Trong hoang mang, thay vì tìm về vàng như “chốn trú ẩn an toàn”, giới đầu tư đã quay trở về một cuộc khủng hoảng nợ ở thế giới Arab đã thúc đẩy giới đầu tư quay trở lại với trái phiếu kho bạc Mỹ và USD để tìm kiếm sự an toàn, kéo tỷ giá USD tăng và giá vàng quay đầu đi xuống. Như vậy, thay vì là vàng, kênh đầu tư được xem là “vịnh tránh bão” hàng đầu năm nay trên thị trường thế giới chính là đồng USD.

 Khi cấu trúc của thị trường vàng đã nghiêng hẳn về mặt đầu tư và đầu cơ chứ không phải thuần túy là sản phẩm đầu tư thay thế để phòng ngừa rủi ro, sẽ là không quá nếu ta hình dung nên “bong bóng giá vàng”. Trong năm 2009, vàng trở thành sản phẩm được ưa chuộng của giới đầu tư nhờ hiệu ứng phụ của chính sách kích thích kinh tế của các nước. Nói cách khác, bong bóng giá vàng được tạo thành cùng lúc với các quả bong bóng thâm hụt ngân sách, bong bóng nợ chính phủ và bong bóng trong bảng cân đối của các NHTW. Tuy nhiên, cũng giống như bất kỳ bong bóng tài sản nào khác, quả bong bóng vẫn sẽ tiếp tục phình to khi người ta còn tiếp tục kỳ vọng nó sẽ phình to hơn nữa trong vòng một thời gian không ngắn trước khi nó nổ tung. Và đó là vấn đề của tương lai, cho đến khi nào kinh tế thế giới bình ổn, thị trường việc làm hồi phục và thị trường tài chính vận hành suôn sẻ, cộng với việc giá vàng đã được đẩy lên mức cao không tưởng mà việc tiếp tục mua sẽ không đem lại nhiều lợi nhuận, thì quả bong bóng đó sẽ xì hơi.

 Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế hàng đầu thế giới, hiện mới chỉ là giai đoạn đầu của chu kỳ đầu cơ vàng và vàng đang trở thành mục tiêu của hoạt động đầu tư dài hạn. Và hiện tại, dấu hiệu bình ổn kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP “dương” cũng đã dần hiển hiện ở một số nền kinh tế chủ chốt, lòng tin tiêu dùng đang dần được khôi phục và hơn thế, sự ham muốn thách thức rủi ro của giới đầu tư cũng đang được kích thích, xu hướng chung dự báo giá vàng sẽ tăng trong năm 2010. Một số chuyên gia mạnh dạn dự báo giá kim loại quý này sẽ cán mức 1,500 USD/oz trong năm tới.

 Dưới tác động của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước cũng liên tục khiến thị trường đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác.

 Ngày lịch sử của thị trường vàng trong nước năm nay là 11/11, khi giá vàng lần lượt chinh phục các mốc giá 27, 28, rồi 29 triệu đồng/lượng chỉ trong vòng có vài giờ đồng hồ buổi sáng. Đỉnh cao mọi thời đại của giá vàng trong nước hiện là mốc 29,3 triệu đồng/lượng.

 Giá vàng khởi đầu năm nay ở mốc hơn 17,5 triệu đồng một lượng và quan sát sơ đồ giá trong năm 2009 có thể thấy đà tăng liên tục, có vài thời điểm vàng xuống hoặc chững giá nhưng độ giảm khá nhẹ và ngắn so với độ tăng. Chênh lệch giữa mức giá cao nhất (29,3 triệu đồng) và thấp nhất trong năm (17,5 triệu đồng) lên tới gần 12 triệu đồng mỗi lượng. Như vậy, có thể thấy chưa có năm nào giá vàng biến động "điên loạn" và gây sốc cho người dân trong nước cũng như thế giới như năm nay.

 Biến động cùng chiều với giá thế giới, song giá vàng trong nước thường có độ vênh đáng kể so với giá vàng thế giới, do thừa hoặc thiếu cung vàng và biến động tỷ giá USD/VND. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, sự lệch giá này là kết quả của hoạt động ghìm giá hoặc thổi giá của giới đầu cơ. giá vàng trong nước năm nay có thời điểm thấp hoặc cao hơn giá vàng thế giới tới cả triệu đồng/lượng. Vào thời điểm giữa quý 1, khi người dân ồ ạt bán vàng để chốt lời ở mức giá 19-20 triệu đồng/lượng, còn doanh nghiệp mạnh tay gom mua để xuất khẩu, giá vàng trong nước đã có lúc thấp hơn giá vàng thế giới 1,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vào giữa quý 4, khi các nhà đầu tư tranh mua vàng, giá vàng trong nước lại thường xuyên cao hơn giá thế giới. Ngoài ra, sự lên xuống của tỷ giá USD/VND thị trường tự do ở nhiều thời điểm còn gây nên sự khác biệt trong biên độ tăng giảm, thậm chí hình thành nên sự biến động ngược chiều giữa giá vàng trong nuớc và giá vàng thế giới.

 Với giới đầu tư Việt Nam, năm 2009 cũng là năm mà kênh đầu tư vàng chứng tỏ được sức hấp dẫn của nó. Giá vàng từ đầu năm tới ngày 24/12 đã tăng gần gấp rưỡi, chỉ số VN-Index tăng 51,8%, còn lãi suất tiết kiệm VND kỳ hạn 1 năm ở điểm đầu năm nay vào khoảng 8%. Sự phát triển rầm rộ của các sàn giao dịch vàng với tỷ lệ ký quỹ ban đầu từ 5 – 7% tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt của kênh đầu tư này và thu hút được nhiều người tham gia. Tuy nhiên, sự mới mẻ của kênh đầu tư này, xu hướng “bầy đàn” vẫn thống trị tâm lý các nhà đầu tư, cộng thêm sự chi phối của quá nhiều tin tức không rõ nguồn gốc và Tình trạng thiếu kiến thức phân tích cơ bản về thị trường đã khiến không ít nhà đầu tư nhỏ lẻ thua lỗ nặng.

 Cũng trong năm 2009, NHNN đã có những can thiệp kịp thời vào thị trường vàng nhằm duy trì tính ổn định của thị trường. Tiêu biểu là quyết định nối lại hoạt động nhập khẩu vàng từ ngày 11/11 sau khi tạm ngừng 1 năm rưỡi đã giúp “hạ nhiệt” cơn sốt vàng đang ở đỉnh điểm. Sau khi vấn đề nguồn cung được giải quyết, giá vàng tiếp tục có những biến động mạnh do xu hướng leo thang của tỷ giá USD thị trường tự do. Tuy nhiên, vấn đề này đã được khắc phục sau khi NHNN nâng mạnh tỷ giá USD/VND liên ngân hàng và thu hẹp biên độ tỷ giá từ +/-5% về +/-3% vào ngày 25/11. Từ thời điểm đó tới nay, với sự ổn định của tỷ giá USD/VND trên thị trường tự do và nguồn cung vàng không còn khan hiếm, giao dịch trên thị trường vàng diễn ra khá ổn định.

 Năm 2010 tới được đánh giá là năm mà kinh tế các nước có thể sẽ hoàn toàn hồi phục sau cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua, áp lực lạm phát sẽ tăng mạnh là hệ quả của hàng loạt gói kích thích kinh tế của các nước. Hơn nữa, cán cân thương mại của Mỹ sẽ tiếp tục thâm hụt nặng nề và USD được dự báo sẽ chịu áp lực giảm giá mạnh. Đây là những trợ lực vững chắc để vàng tiếp tục lập thêm nhiều kỷ lục mới. Năm 2010 cũng được dự báo là năm tăng giá của vàng trong nước bởi các yếu tố gồm giá vàng quốc tế tăng, tỷ giá USD/VND tăng và nhu cầu đầu tư vàng vẫn khá mạnh.

 [EUR] Đồng EUR tiếp tục khẳng định vị thế sau 11 năm chính thức lưu hành

 Thăng trầm cùng với tình hình kinh tế Cộng đồng chung Châu Âu, từ con số 11 quốc gia được lưu hành đầu tiên, sau 11 năm hoạt động, hiện nay đồng EUR đã chiếm một “thị phần” nhất định trên thị trường ngoại hối toàn cầu. Bỏ qua những hoài nghi về sức mạnh của đồng tiền chung Châu Âu và khả năng điều hành của NHTW Châu Âu ECB đối với tất cả các quốc gia thuộc khu vực Eurozone trong những ngày đầu lưu hành, trải qua chặng đường dài phát triển hơn 10 năm, đồng EUR đã ngày càng chứng minh được sức mạnh của mình. Ngoài việc tỷ giá EUR/USD giao dịch ở cách xa mốc giá giao dịch lần đầu đã khẳng định sức mạnh hợp nhất của khu vực này, đồng EUR hiện trở thành đồng tiền giao dịch lớn thứ 2 thế giới sau USD, và quan trọng hơn EUR cũng đã trở thành đồng tiền dự trữ lớn thứ 2 ở NHTW các nước. Đồng EUR đang “lăm le” nhòm ngó “ngôi vị độc tôn” mà đồng USD đã thống trị trong nhiều thập kỷ.

 Mức tăng xấp xỉ 18% của tỷ giá EUR/USD trong năm 2009 đã đánh dấu một năm thành công của đồng tiền chung Châu Âu so với đồng bạc xanh dù trong năm, tác động của nhiều dữ kiện kinh tế khiến cho giá trị đồng EUR “trồi sụt” không ít.

 Diễn biến trái ngược với những ngày đầu năm 2008, hai tháng đầu năm 2009, đồng EUR rớt giá mạnh trên thị trường, chỉ riêng trong tháng 1, đồng EUR đã mất đến 9% gía trị so với đồng USD. Tình trạng suy thoái bao phủ toàn cầu cùng hậu quả của cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn ở Mỹ và nỗi hoảng sợ từ những đổ vỡ của năm trước tiếp tục đeo đuổi các nhà đầu tư trong những tháng đầu năm 2009, khiến nhiều nhà đầu tư “chùng tay” với các tài sản có suất sinh lời cao đi kèm với rủi ro cao. Bóng mây suy thoái tiếp tục phủ màu u ám cho kinh tế khu vực Eurozone khi kết thúc quý 1 GDP đã giảm kỷ lục 1.8%, trong đó kinh tế Đức sụt 3.8%, Ý co lại 2.6%, Pháp giảm 1.2%, GDP của Tây Ban Nha, Hà Lan đều đạt kết quả âm - mức giảm tồi tệ nhất kể từ năm 1990. Sự trượt dốc của chứng khoán toàn cầu – hàn thử biểu quan trọng thể hiện sức khỏe nền kinh tế cũng làm tâm lý lo lắng trên thị trường toàn cầu dâng cao, khiến đồng EUR bị đánh gục trong quý đầu tiên của năm so với USD.

 Sau khi xác lập đáy vào cuối tháng 2, đà phục hồi kinh tế được ghi nhận sau hàng loạt các biện pháp giải cứu kinh tế khổng lồ từ chính phủ các nước, đồng EUR bắt đầu đảo chiều tăng điểm vượt bậc so với USD liên tiếp từ tháng 3 đến tháng 11, trong đó tháng 3 được ghi nhận là tháng khởi đầu cho chuỗi tăng điểm dài nhất của EUR kể từ khi lưu hành. Với những kế hoạch khổng lồ như 500 tỷ USD cứu ngành ngân hàng vào tháng 1 và kế hoạch kích thích tăng trưởng kinh tế trị giá 67 tỷ USD- một trong những kế hoạch có qui mô lớn nhất trong khu vực của Đức, kèm theo đó là ECB đã hạ lãi suất xuống 2%, hay là hành động mạnh tay quốc hữu hóa ngân hàng ở Đức … những dấu hiệu khả quan đã bắt đầu le lói xuất hiện tại khu vực EU. Tuy nhiên, áp lực của suy thoái toàn cầu tiếp tục khiến xuất khẩu giảm và người dân thắt chặt tiêu dùng làm cho GDP giảm 0.2% so với quí trước. Đã vậy, vấn đề đau đầu về tình hình thất nghiệp leo thang khi tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực này tăng lên 9.5% trong tháng 5- mức cao nhất trong thập kỷ càng khiến cho các nhà cầm quyền đau đầu. Trước tình hình đó, ngày 07/05/2009 ECB đã hạ lãi suất đồng EUR xuống mức thấp chưa từng có 1% để chống suy thoái và mua vào một số loại thương phiếu nợ thế chấp chứng khoán nợ công nhằm kích thích kinh tế. Ngày 24/06, ECB tiếp tục bơm thêm 442 tỷ EUR cứu ngành ngân hàng. Các hành động mạnh tay này giúp Châu Âu chính thức thoát khỏi suy thoái khi GDP quý 3 đạt con số 0.7%.

 Sự hân hoan trước những tin tức về tình hình hồi phục kinh tế khu vực đã giúp EUR/USD “thăng hoa” trong quý 2,3/2009 và những tháng cuối cùng của năm và mức đỉnh cao nhất năm được thiết lập vào ngày 24/11/2009 ở mức 1 EUR ăn 1.5145 USD. Lực hỗ trợ cho đồng tiền chung Châu Âu chính là nỗ lực ngăn đà suy thoái của các nhà lãnh đạo châu Âu bắt đầu cho những kết quả tốt đẹp và khủng hoảng tài chính lại đang dịu bớt, cộng thêm hệ quả của sự suy yếu của đồng tiền quốc tế USD bởi những lo ngại về Tình trạng của đầu tàu kinh tế Mỹ đã phân hóa sức mạnh đồng bạc xanh. Nhiều chuyên gia đã nhận định Châu Âu sẽ là khu vực về đích sớm nhất trên con đường hồi phục kinh tế toàn cầu sau khủng hoảng.

 Dù vậy, tháng cuối cùng của năm lại “bùng nổ” những hiểm họa mới như áp lực về nguy cơ lạm phát quay trở lại khi kinh tế tăng trưởng, và sự trỗi dậy mạnh mẽ của bạc xanh sau khi chạm tới mức thấp nhất trong lịch sử đã phần nào cản trở bước tiến của đồng EUR. Ngoài ra, sau khi tung ra các biện pháp kích thích kinh tế, các nước trong khu vực Châu Âu đang chịu mức thâm hụt ngân sách khổng lồ - cao nhất trong 14 năm cùng với những vấn đề rắc rối trên thị trường tài chính dấy lên những mối lo ngại mới. Khủng hoảng nợ ở Dubai World và sự tụt hạng tín nhiệm ở Hy Lạp sẽ mở màn cho những cú sốc khác về nợ tại một số quốc gia trong khu vực Châu Âu. Những hoài nghi về đà hồi phục của khu vực bắt đầu xuất hiện và việc này đã tác động lên sức khỏe của đồng EUR. tỷ giá EUR/USD giảm mất 4% trong tháng 12 và hiện đang giao dịch ở mức 1 EUR “ăn” 1.4220 USD.

 Sau khi kinh tế “bình thường trở lại”, việc thu hồi các biện pháp kích cầu sẽ được tính đến và liền sau đó sẽ là thời kỳ hết sức khó khăn với nền kinh tế và thị trường để thích ứng với những thay đổi mới. Tuy nhiên, với các chỉ số kinh tế cải thiện ở một số lĩnh vực quan trọng tại khu vực Chung Châu Âu, đầu tàu kinh tế này dường như đã có đà để có được một sự khởi đầu suôn sẻ trong năm mới 2010 dựa trên niềm lạc quan về triển vọng kinh tế. Khi kinh tế khu vực EU khởi sắc trở lại, với tính chất của một đồng tiền lãi suất cao và đại diện cho một khu vực kinh tế “khỏe mạnh”, đồng EUR sẽ có lợi thế để tiếp tục chứng tỏ sức mạnh của mình trên thị trường. 

  [JPY] 2009: Năm đầy vất vả của nền kinh tế Nhật và chiến thắng “không mong đợi” của đồng JPY

 Năm 2009 kết thúc để lại nhiều dấu ấn mạnh mẽ về quá trình chuyển mình đầy khó khăn của các quốc gia trên thế giới trong nỗ lực vượt qua cuộc khủng hoảng toàn cầu được khơi nguồn từ giữa năm 2007. Năm 2009 đánh dấu một bước tiến vượt bậc trên thị trường chứng khoán Mỹ khi xu hướng kinh doanh rủi ro bắt đầu quay trở lại cùng với sự phục hồi niềm tin của giới đầu tư toàn cầu, các chỉ số chứng khoán Mỹ gia tăng giá trị với tốc độ nhanh chóng và liên tục lập những kỷ lục mới. Trật tự về kinh tế thế giới trong khủng hoảng có nhiều thay đổi và từ đó ảnh hưởng đến vị thế của các đồng tiền trên thị trường ngoại hối. Trong bối cảnh đó, xét tương quan so sánh giữa đồng JPY và đồng USD, năm 2009 có thể coi là năm thành công của đồng Yên Nhật so với đồng bạc xanh, tuy nhiên chiến thắng này không hẳn là điều mà nền kinh tế mặt trời mọc mong đợi, đặc biệt khi sức khỏe kinh tế Nhật còn rất nhiều vấn đề đau đầu cần phải giải quyết.

 Tình hình u ám của nước Nhật

 Nước Nhật bắt đầu năm mới với số liệu GDP quý IV/2008 sụt giảm 3.8%, đánh dấu sự suy giảm trầm trọng nhất kể từ cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1974 và suy giảm gấp hai lần so với các nước Châu Âu và Mỹ tại thời điểm này. Tiếp đó, GDP nước này tiếp tục giảm 4% trong Quý I/2009. Những nhà sản xuất ô tô, điện tử và các công ty lớn khác đã cắt giảm hàng ngàn việc làm, cắt giảm sản xuất, thu hẹp phạm vi hoạt động để chống chọi cho qua cơn suy thoái. Nhu cầu trong và ngoài nước của kinh tế Nhật Bản đều suy yếu. Chỉ số niềm tin kinh doanh của các công ty lớn tại Nhật rơi xuống mức thấp kỷ lục. Xuất khẩu Nhật giảm đến 49% so với cùng kỳ năm ngoái. Việc sụt giảm của nền kinh tế đi đầu châu Á này chứng minh cho Tình trạng dễ bị tổn thương của các nền kinh tế xuất khẩu châu Á trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đi xuống. Với việc thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ để kích thích tăng trưởng kinh tế trở lại nhưng không thành công, trong khi thất nghiệp leo thang, người dân trở nên dè sẻn hơn trong chi tiêu, nước Nhật chính thức phải thừa nhận tình trạng giảm phát đã hiện diện ở quốc gia này. Các nhà cầm quyền Nhật nỗ lực hết sức trong việc hỗ trợ cho nền kinh tế: 2 gói kích thích kinh tế được đưa ra trong năm với trị giá lần lượt là 143 tỷ USD vào tháng 5 và 81 tỷ USD vào tháng 12 nhưng hiệu quả của chúng còn khá khiêm tốn. Sự tăng giá “không mong đợi” của đồng JPY trên thị trường ngoại hối cũng khiến khả năng cạnh tranh của các công ty xuất khẩu ở Nhật giảm sút nghiêm trọng. Đến quý III, mặc dù GDP tăng trưởng trở lại quý thứ 2 liên tiếp, tỷ lệ thất nghiệp cũng giảm từ 5,3% xuống 5,1% trong tháng 10, xuất khẩu của Nhật Bản tháng 10 giảm với tốc độ chậm nhất trong năm, đẩy thặng dư mậu dịch tăng lên 42,7% so với đầu năm lên 1,4 ngàn tỷ JPY; việc giá cả hàng hóa và dịch vụ tại Nhật đã giảm 2,6%, mức giảm mạnh nhất từ năm 1958 tới nay khiến nỗi lo của người dân và các nhà cầm quyền càng trở nên lớn hơn. Bất chấp chính phủ có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp như cung cấp các khoản tín dụng với tổng số tiền lên tới 10.000 tỷ Yên với mức lãi suất 0,1%, với tài sản thế chấp dễ dàng chưa từng có nhưng nhu cầu thực tế vẫn ở mức thấp. Giá cả suy giảm kéo theo lợi nhuận của các doanh nghiệp, tiếp đó là tiền lương của người lao động, dẫn đến chi tiêu của người dân giảm sút tác động trở lại hoạt động đầu tư của các công ty tạo nên một vòng xoáy trì trệ kéo dài. Hơn nữa, để có tiền cho các gói kích thích kinh tế này và các khoản chi tiêu khác, chính phủ Nhật phải liên tục phát hành trái phiếu và đẩy nợ công của quốc gia này lên vị trí số 1 thế giới, với khoảng 53.500 tỷ Yên, gần gấp đôi so với GDP. Đây là một thách thức không nhỏ đối với đất nước mặt trời mọc khi năm tài chính 2009 kết thúc và là yếu tố bất lợi đối với giá trị của đồng JPY trong năm 2010.

 Mối tương quan giữa giá trị tỷ giá USD/JPY và sắc màu thị trường chứng khoán

 Mô tả về diễn biến của đồng JPY trong năm không thể không gắn liền với những biến động trên thị trường chứng khoán thế giới, đặc biệt là phong vũ biểu của nền kinh tế Mỹ. Vốn được sử dụng như một công cụ chủ yếu để kinh doanh chiến lược “carry trade” (vay đồng tiền có lãi suất thấp đầu tư vào các tài sản có suất sinh lời cao) khi lãi suất đồng JPY được giữ liên tục ở mức thấp gần 0%, giá trị đồng Yên Nhật có mối quan hệ mật thiết với sắc màu trên thị trường chứng khoán. Thông thường, khi thị trường chứng khoán tăng trưởng, đồng JPY sẽ bị bán ra để lấy nguồn đầu tư vào các tài sản sinh lợi cao trên thị trường, còn khi thị trường chứng khoán rớt điểm, nhu cầu bảo toàn giá trị tài sản sẽ tạo lực mua vào đồng tiền này. Tuy nhiên có nhiều thời điểm, mối tương quan này bị phá vỡ hoàn toàn.

 Mở đầu năm 2009, thị trường chứng khoán Mỹ ngập chìm trong biển lửa khi những tin tức thất vọng về GDP quý 4/2008 và việc thành lập một ngân hàng để giải quyết các nợ xấu của khối tài chính ở Mỹ khiến nỗi lo lắng của các nhà đầu tư dâng cao. Đây cũng là không khí chính bao trùm các thị trường chứng khoán toàn cầu. Các nhà đầu tư tháo chạy khỏi thị trường, chuyển vốn về nước hoặc bảo toàn tài sản bằng các công cụ được mệnh danh là chiếc hầm trú ẩn an toàn và đồng tiền có lãi suất thấp như đồng JPY trở thành một lựa chọn được ưu tiên. Kết thúc tháng 1, trong khi Phố Wall đón nhận tháng giao dịch tồi tệ nhất trong lịch sử, tỷ giá USD/JPY giảm 75 điểm so với mức mở cửa đầu tháng.

 Tháng 2 mở đầu bằng việc DJIA chính thức chia tay mốc 8,000 điểm và tiếp tục chuỗi ngày tụt dốc một cách thảm hại cho đến đầu tháng 3. Những gói kích thích kinh tế với quy mô khổng lồ của nước Mỹ không đáp ứng được kỳ vọng của thị trường và vì vậy không thể vực dậy niềm hứng khởi của các nhà đầu tư đối với các loại hàng hóa trên thị trường chứng khoán. Các thông tin thất vọng về khu vực chế tạo, chỉ số niềm tin, dòng vốn đầu tư dài hạn, kế hoạch sa thải nhân công, sự khát vốn cứu trợ từ chính phủ để tái cấu trúc tổ chức của các đại gia, kế hoạch kiểm tra năng lực tài chính trong hệ thống ngân hàng… tiếp tục làm buồn lòng nhà đầu tư. Nhu cầu bảo toàn tài sản lại càng được đẩy lên cao. Thị trường chứng khoán Mỹ rơi vào trạng thái “rớt tự do”. Trong bối cảnh này, mặc dù thị trường thay đổi cái nhìn đối với vị thế của nước Mỹ nhưng với vai trò truyền thống là đồng tiền dự trữ quốc tế hàng đầu, đồng bạc xanh vẫn tỏ rõ ưu thế so với những đồng tiền lãi suất thấp có vai trò “hầm trú ẩn an toàn”. Đây cũng là tháng mất điểm mạnh nhất của đồng JPY so với đồng USD trong năm 2009.

 Bước sang tháng 3, thị trường chứng khoán bắt đầu có sự “thay da đổi thịt” một cách rõ rệt với “phát súng” khơi mào là thông báo có lãi quý đầu tiên kể từ tháng 3/2007 của Citigroup. Các chuyên gia lạc quan nhận định chứng khoán Mỹ đã bắt được đáy và đang bắt đầu gượng dậy. Sự lạc quan của giới đầu tư quốc tế tiếp tục khiến đồng JPY trượt sâu hơn trên thị trường. Tuy nhiên xu hướng này nhanh chóng kết thúc. Sự thắng thế của đồng JPY trong gần ¾ năm còn lại được hỗ trợ phần lớn bởi sự chối bỏ của giới đầu tư quốc tế đối với đồng USD khi vị thế độc tôn về kinh tế chính trị của Mỹ đang có dấu hiệu lung lay. Sau khi lập đỉnh 101.44 vào ngày ¼, tỷ giá USD/JPY liên tục trượt dốc và chạm đỉnh thấp nhất trong vòng 14 năm – mức 84.81 vào ngày 1/11. Cũng bắt đầu từ tháng 3 dù cho có những thăng trầm nhưng xu hướng tăng giá vẫn chiếm thế chủ đạo trên thị trường và đến cuối năm, các chỉ số chứng khoán trên Phố Wall đã bỏ xa vạch xuất phát đầu năm, tiêu biểu là chỉ số DJIA đã gia tăng được đến hơn 20% giá trị.

 Tình hình yếu kém của cường quốc kinh tế từng đứng thứ hai thế giới sẽ là gánh nặng không nhỏ đối với đồng JPY trong năm tới trong khi đồng USD đang có dấu hiệu phục hồi trở lại cùng với những tín hiệu kinh tế khả quan trên thị trường Mỹ. Niềm tin của thị trường đang quay lại với đồng USD khi đầu tàu kinh tế Mỹ liên tục phát đi những tín hiệu khả quan. Xu hướng tăng giá của đồng JPY so với đồng USD cũng tạm thời bị bẻ gãy vào sau 8 tháng tăng liên tục, kết thúc tháng 12, tỷ giá USD/JPY đã tăng đến 541 điểm so với đầu tháng. Năm 2010 dự báo sẽ là năm đầy vất vả đối với đồng JPY và nền kinh tế Nhật Bản trên con đường tìm lại vị thế của mình trên thị trường quốc tế.

SCB
Search: ấn định, Bloomberg, Châu Âu, chi tiêu, chiến lược, chốt lời, chứng khoán, Chứng khóan Mỹ, chuyên gia, chuyên gia kinh tế, cổ phiếu, Dao động, Dow Jones, Dự báo, Dự báo giá vàng, dự trữ vàng, đầu cơ, đầu cơ vàng, đầu tư vàng, điều chỉnh giảm, đồng tiền chung Châu Âu, ECB, EU, EUR, EUR/USD, Euro, FDI, FED, GDP, Giá USD, giá vàng, Giá vàng trong nước, giảm điểm, giảm phát, giao dịch, giao dịch vàng, giavang, giới đầu tư, gói kích thích, hãng tin tài chính, hệ thống, hiệu quả, hợp nhất, IMF, kết quả, khủng hoảng tài chính, Kích cầu, kích thích kinh tế, kiều hối, Kim loại quý, Kinh doanh, Kinh tế Mỹ, Kinh tế thế giới, kinh tế toàn cầu, Lãi suất, lạm phát, nền kinh tế Mỹ, New York, Ngân hàng, Ngoại hối, Ngoại tệ, nhà đầu tư, Nhận định, nhận định chứng khoán, Nhập khẩu, nhập khẩu vàng, Nhật Bản, Nhu cầu, nhu cầu vàng, nữ trang, Phân tích cơ bản, Phố Wall, phục hồi kinh tế, sàn giao dịch, sàn giao dịch vàng, SCB, sử dụng, suy thoái kinh tế, tài chính, Tăng trưởng, Tăng trưởng Kinh tế, tập đoàn, thâm hụt ngân sách, thị trường, thị trường liên ngân hàng, thị trường ngoại hối, thị trường ngoại tệ, thị trường quốc tế, thị trường tài chính, Thị trường vàng, thương mại, Tiền tệ, tín dụng, Tin thị trường, Tình trạng, Tình trạng suy thoái, title.SCB, tổng công ty, tổng công ty nhà nước, Trái phiếu, Trung Quốc, Tỷ giá, tỷ giá EUR, tỷ giá USD, USD, USD/oz, Vàng, Vàng thế giới, vàng trong nước, vàng vật chất, việt nam, VN-Index, vnd, Xu hướng, xu hướng tăng, Xuất khẩu, Xuất nhập khẩu
Tags : đồng tiền chung Châu Âu, điều chỉnh giảm, đầu tư vàng, đầu cơ vàng, đầu cơ, Xuất nhập khẩu, Xuất khẩu, xu hướng tăng, Xu hướng, vnd, VN-Index, việt nam, vàng vật chất, vàng trong nước, Vàng thế giới, Vàng, USD/oz, USD, tỷ giá USD, tỷ giá EUR, Tỷ giá, Trung Quốc, Trái phiếu, tổng công ty nhà nước, tổng công ty, Tình trạng suy thoái, Tình trạng, Tin thị trường, tín dụng, Tiền tệ, thương mại, Thị trường vàng, thị trường tài chính, thị trường quốc tế, thị trường ngoại tệ, thị trường ngoại hối, thị trường liên ngân hàng, thị trường, thâm hụt ngân sách, tập đoàn, Tăng trưởng Kinh tế, Tăng trưởng, tài chính, suy thoái kinh tế, sử dụng, title.SCB, sàn giao dịch vàng, sàn giao dịch, phục hồi kinh tế, Phố Wall, Phân tích cơ bản, nữ trang, nhu cầu vàng, Nhu cầu, Nhật Bản, nhập khẩu vàng, Nhập khẩu, nhận định chứng khoán, Nhận định, nhà đầu tư, Ngoại tệ, Ngoại hối, Ngân hàng, New York, nền kinh tế Mỹ, lạm phát, Lãi suất, kinh tế toàn cầu, Kinh tế thế giới, Kinh tế Mỹ, Kinh doanh, Kim loại quý, kiều hối, kích thích kinh tế, Kích cầu, khủng hoảng tài chính, kết quả, IMF, hợp nhất, hiệu quả, hệ thống, hãng tin tài chính, gói kích thích, giới đầu tư, giavang, giao dịch vàng, giao dịch, giảm điểm, giảm phát, Giá vàng trong nước, giá vàng, Giá USD, GDP, FED, FDI, Euro, EUR/USD, EUR, EU, ECB, dự trữ vàng, Dự báo giá vàng, Dự báo, Dow Jones, Dao động, cổ phiếu, chuyên gia kinh tế, chuyên gia, Chứng khóan Mỹ, chứng khoán, chốt lời, chiến lược, chi tiêu, Châu Âu, Bloomberg, ấn định, SCB
Bookmark and Share
Facebook
0 Comments

Comments

Post new comment

The content of this field is kept private and will not be shown publicly.