Kiến Thức

Tái định giá dự trữ vàng của ngân hàng trung ương có phải là giải pháp?

Hiệu quả của việc tái định giá dự trữ vàng nhằm giải quyết các thách thức về tài khóa hoặc tiền tệ là khá khác biệt: những quốc gia cần giải pháp này nhất lại đạt được ít tác động bền vững nhất, trong khi các quốc gia sử dụng thận trọng nhất lại không thực sự cần nó — theo nghiên cứu mới từ Colin Weiss, chuyên gia kinh tế chính về dòng tài chính toàn cầu tại Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ.

“Trong bối cảnh nợ công ở mức cao, một số chính phủ đã bắt đầu tìm cách tài trợ cho chi tiêu bổ sung mà không cần tăng thuế hay gia tăng nợ công,” ông viết trong báo cáo “Tái định giá dự trữ chính thức: Kinh nghiệm quốc tế” công bố ngày 1/8. “Một phương án được đưa ra là sử dụng lợi nhuận từ việc định giá lại dự trữ vàng – ý tưởng đã được đề xuất gần đây ở Mỹ và Bỉ. Tại Mỹ, điều này có nghĩa là tái định giá 261,5 triệu ounce vàng dự trữ của chính phủ – lượng vàng dự trữ lớn nhất thế giới – từ mức giá pháp lý 42,22 USD/ounce lên mức giá thị trường hiện tại khoảng 3.300 USD/ounce.”

Trong nghiên cứu này, Weiss xem xét một số ít quốc gia đã từng tái định giá dự trữ vàng và ngoại hối để thu lợi nhuận. “Trong 30 năm qua, chỉ có năm quốc gia thực hiện việc này – gồm Đức, Ý, Lebanon, Curaçao và Saint Martin, và Nam Phi,” ông viết. “Điều gì đã thúc đẩy các chính phủ thực hiện tái định giá này? Việc đó được thực hiện ra sao và kết quả thế nào?”

Theo Weiss, nguồn tiền thu được từ việc tái định giá này “hoặc được ngân hàng trung ương sử dụng (như ở Ý và Curaçao – Saint Martin), hoặc chuyển cho chính phủ trung ương (như ở Nam Phi, Lebanon và Đức).”

“Các ngân hàng trung ương sử dụng khoản thu này để bù đắp thua lỗ và duy trì lợi nhuận ròng hoặc giảm lỗ được ghi nhận,” ông viết. “Ở Ý, khoản thu từ tái định giá được dùng để bù đắp khoản lỗ một lần từ việc chuyển đổi một trái phiếu mà Banca d’Italia nắm giữ. Tại Curaçao và Saint Martin, khoản tiền này giúp bù lỗ do lợi tức chứng khoán giảm và thua lỗ từ định giá lại khi tái cân bằng danh mục đầu tư. Tuy nhiên, ở Curaçao và Saint Martin, khoản tái định giá này đi kèm với các biện pháp khác để tăng thu nhập bền vững hơn.”

Về phía chính phủ, họ dùng khoản tiền này “để trả nợ hiện có, thường là trong hoàn cảnh tài khóa đặc biệt.” Tuy nhiên, “việc giảm nợ bằng nguồn tái định giá này chỉ cải thiện tình hình tài khóa ở mức cục bộ, không giải quyết được các thách thức cơ cấu lớn hơn.”

Ví dụ: “tỷ lệ nợ công/GDP của Lebanon vẫn tiếp tục tăng sau khi dùng khoản thu từ tái định giá để trả một phần nợ.”

Weiss cũng giải thích rằng các ngân hàng trung ương có nhiều phương pháp khác nhau để định giá vàng dự trữ: “Một số định giá theo giá mua lịch sử, số khác theo giá thị trường hiện tại.” Khi định giá theo thị trường, các khoản lãi/lỗ chưa thực hiện được ghi vào “tài khoản tái định giá” ở phần nợ của bảng cân đối kế toán.

Khi vàng được định giá theo chi phí lịch sử, “vàng có thể được tái định giá theo giá thị trường để tạo ra doanh thu.” Khi toàn bộ dự trữ chính thức được định giá theo giá thị trường, “khoản định giá này có thể được chuyển sang các mục khác trên bảng cân đối kế toán để tạo thành nguồn tài chính.”

Việc tái định giá vàng đặc biệt có ý nghĩa bởi vì phần lớn vàng dự trữ của các quốc gia trên thế giới được mua từ trước năm 1990 – và giá vàng kể từ đó đã tăng mạnh.

Tái định giá dự trữ vàng của ngân hàng trung ương có phải là giải pháp?

Ba mô hình sử dụng tiền từ tái định giá vàng

Weiss chia các trường hợp sử dụng khoản thu tái định giá vào 3 loại:

  • Vàng định giá theo chi phí lịch sử, tiền chuyển cho chính phủ:

Bảng cân đối ngân hàng trung ương tăng tài sản và tăng nợ tương ứng, với khoản nợ là tài khoản chính phủ. Khi chính phủ chi tiêu, khoản nợ chuyển thành dự trữ của các ngân hàng thương mại.

  • Vàng định giá theo giá thị trường, tiền chuyển cho chính phủ:

Tài khoản tái định giá giảm, tài khoản chính phủ tăng. Tài sản không thay đổi, chỉ có cơ cấu nợ thay đổi.

  • Vàng định giá theo giá thị trường, ngân hàng trung ương sử dụng để bù lỗ:

Tài khoản tái định giá giảm, lợi nhuận ròng tăng.

Tái định giá dự trữ vàng của ngân hàng trung ương có phải là giải pháp?

Weiss so sánh khoản thu tái định giá so với GDP của từng quốc gia khi thực hiện. Ông lưu ý rằng: “Ngoại trừ trường hợp Đức, các trường hợp chuyển tiền cho chính phủ trung ương đều có quy mô lớn hơn so với khi ngân hàng trung ương sử dụng.”

Phân tích các trường hợp cụ thể

Curaçao và Saint Martin: Tái định giá tương đương 0,6% GDP – mức khá khiêm tốn. Ngân hàng trung ương dùng để bù lỗ một vài năm và tìm cách tạo ra nguồn thu lâu dài khác.

Ý (2002): Banca d’Italia chuyển 13 tỷ euro từ tài khoản tái định giá để bù lỗ – tương đương khoảng 1% GDP. Việc này giúp ngân hàng duy trì lãi ròng trong năm đó.

Nam Phi (2024): Ngân khố quốc gia và ngân hàng trung ương thỏa thuận sử dụng 150 tỷ Rand (khoảng 2% GDP 2023) từ tái định giá vàng để giảm vay nợ và chi phí lãi vay từ 2024–2027. Việc sử dụng đang diễn ra nên chưa thể đánh giá hiệu quả lâu dài.

Lebanon (2002): Ngân hàng trung ương dùng khoản tái định giá để xóa 1,8 tỷ USD trái phiếu kho bạc – tương đương 11% GDP, lớn nhất trong các trường hợp được nghiên cứu. Tuy nhiên, nợ/GDP vẫn tiếp tục tăng do tình hình tài khóa quá tệ: đến 1997, chi trả lãi chiếm 91% thu ngân sách.

Đức (1997): Chính phủ Kohl và Waigel đề xuất tái định giá vàng để sử dụng 20 tỷ DM nhằm giảm thâm hụt, tương đương 0,5% GDP – nhằm tuân thủ tiêu chí Maastricht khi gia nhập eurozone. Sau tranh luận quốc hội, khoản tiền không được chi trong 1997 mà chuyển sang 1998. Cuối cùng, Đức vẫn đạt mục tiêu tài khóa năm 1997 mà không cần dùng khoản tái định giá.

Tái định giá dự trữ vàng của ngân hàng trung ương có phải là giải pháp?

Kết luận ngầm định: không phải liều thuốc vạn năng

Weiss không đưa ra kết luận cụ thể, nhưng dữ liệu cho thấy: Tái định giá vàng dù có quy mô lớn cũng chỉ mang lại tác động một lần và không thể giải quyết tận gốc các vấn đề tài khóa lâu dài.

Ông lưu ý: “Ngay cả nếu Mỹ tái định giá toàn bộ dự trữ vàng theo giá thị trường hiện tại, khoản tiền thu được cũng chỉ tương đương khoảng 3% GDP, tức chưa đủ để trang trải cho một năm chi tiêu ngân sách.”

Xem thêm
Back to top button